Chi tiết chương trình
 
Phát triển NHCN “Mật ong hoa cà phê Gia Lai”
 Ngày: 05-08-2025
File đính kèm: , ,
Sản phẩm “MẬT ONG HOA CÀ PHÊ GIA LAI” đã có danh tiếng được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam - VietKings đã chính thức công bố “top” 10 đặc sản làm quà tặng nổi tiếng của Việt Nam.
Sản phẩm đặc sản này được nhiều sự quan tâm của nhà nước, chính quyền địa phương cũng như các tổ chức trong và ngoài nước. Việc NHCN “Mật ong hoa cà phê Gia Lai’ được nhà nước bảo hộ cấp giấy chứng nhận tạo tiền đề thuận lợi trong việc quản lý, sử dụng và phát triển sản phẩm “mật ong, phấn hoa cà phê” của tỉnh Gia Lai.

Hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội

Nhiệm vụ được triển khai đã khẳng định được nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm; chỉ rõ được tính chất và chất lượng đặc thù của sản phẩm khác với các vùng sản xuất mật ong, phấn hoa khác trong cả nước. Đây là một trong những thuận lợi trong việc tạo thế cạnh tranh trên thị trường, làm tăng giá trị sản phẩm “Mật ong hoa cà phê Gia Lai”, qua đó nâng cao đời sống người dân nuôi ong, sản xuất, khai thác, chế biến mật ong, phấn hoa cà phê Gia Lai. 


Việc xây dựng thành công NHCN “Mật ong hoa cà phê Gia Lai” của tỉnh Gia Lai góp phần nâng cao vị thế sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế, mang lại hiệu quả kinh tế- xã hội cho khu vực địa lý 10 huyện/thành phố nói riêng, của tỉnh Gia Lai nói chung; tạo được lòng tin cho các doanh nghiệp thu mua cũng như tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, qua đó ổn định và nâng cao giá trị sản phẩm trên thị trường (ước tính giá trị tăng thêm của sản phẩm từ 10-15%.)

Các hoạt động của nhiệm vụ đã xây dựng công cụ makerting cho các sản phẩm mật ong, phấn hoa cà  phê của tỉnh Gia Lai, cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của địa phương theo hướng nâng cao giá trị và hiệu quả bền vững bằng việc xây dựng và phát triển NHCN “Mật ong hoa cà phê Gia Lai” của tỉnh Gia Lai.

Các sản phẩm mật ong, phấn hoa cà phê mang NHCN “Mật ong hoa cà  phê Gia Lai” được kiểm soát chất lượng, giới thiệu quảng bá tới các thị trường  tiềm năng để người tiêu dùng nhận biết, cảm nhận, tiêu dùng và tin dùng. Từ đó, tăng sản lượng và giá bán, góp phần thu hút lao động và tạo việc làm cho người dân địa phương, hỗ trợ phát triển du lịch, tạo sự ổn định thị trường tiêu thụ.

Bên cạnh đó, nhiệm vụ đã góp phần tái cơ cấu ngành chăn nuôi của tỉnh Gia Lai bền vững dựa trên các sản phẩm đặc sản địa phương gắn với quản lý chất lượng theo liên kết chuỗi để tăng giá trị sản xuất và giảm thiểu các rủi ro thị trường cho sản phẩm.

Kết quả của nhiệm vụ đã góp phần duy trì và phát triển thương hiệu mật ong, phấn hoa, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm và thúc đẩy sản xuất phát triển tăng thu  nhập và nâng cao đời sống cho người nuôi ong, sản xuất sản phẩm mật ong, phấn hoa của tỉnh Gia Lai; tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người dân tham gia thành lập các nhóm, các đội và hiệp hội sản xuất, kinh doanh sản phẩm, làm cơ sở ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng nội bộ trong giai đoạn quản lý và phát triển NHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sản xuất và người tiêu dùng.

Tính bền vững và nhân rộng của nhiệm vụ


Nhiệm vụ tiếp cận theo hướng khuyến khích tối đa nguồn lực cộng đồng, sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức cá nhân và chính quyền địa phương xuyên suốt quá trình triển khai là giải pháp quan trọng đảm bảo các kết quả của  nhiệm vụ, khả năng áp dụng của doanh nghiệp, người sản xuất và các địa phương có vùng nguyên liệu cây nguồn mật để phục vụ nuôi ong, khai thác, chế biến sản phẩm “Mật ong hoa cà phê Gia Lai”. Quy trình sản xuất đảm bảo chất lượng đặc thù, hệ thống bao bì, logo, nhãn hàng hóa đã được doanh nghiệp sử dụng vào hệ thống phân phối với quy mô lớn, đảm bảo tính bền vững của dự án.

Kết quả của nhiệm vụ là cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các cơ chế, chính sách đầu tư bảo tồn và phát triển bền vững vùng nguyên liệu cây nguồn mật (cây cà phê) trên các vùng địa lý có tính tương đồng, mở rộng vùng địa danh tương ứng với vùng địa lý, tăng sản lượng mật ong, phấn hoa cà phê, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Gia Lai một cách bền vững.

Kết quả và kinh nghiệm về tổ chức thực hiện nhiệm vụ là cơ sở và kinh nghiệm để các địa phương có thể tham khảo áp dụng trong việc hoàn thiện hệ thống tổ chức, quản lý NHCN cho các sản phẩm khác của tỉnh Gia Lai nói riêng và của Việt Nam nói chung.

Chính vì vậy, kết quả này là căn cứ để tiếp cận thị trường, chống lại sự canh tranh không lành mạnh, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người nuôi ong và người tiêu dùng, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn, miền núi biên giới của tỉnh Gia Lai, tạo công ăn việc làm tại chỗ, ổn định sinh kế cho người dân, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia. 

Việc bảo hộ thành công quyền SHTT cho sản phẩm mật ong, phấn hoa cà phê của tỉnh Gia Lai mang NHCN “MẬT ONG HOA CÀ PHÊ GIA LAI” . sẽ thúc đẩy tiềm năng du lịch, bảo vệ môi trường sinh thái dựa vào lợi thế sẵn có theo định hướng thị trường. NHCN “Mật ong hoa cà phê Gia Lai” của tỉnh Gia Lai là tài sản công, là công cụ tiếp cận thị trường tối ưu. Khi sản phẩm mật ong, phấn hoa của tỉnh Gia Lai được khai thác trong khu vực này và được Nhà nước bảo hộ thì danh tiếng, giá trị sản phẩm không chỉ dừng lại ở vùng địa lý “Gia Lai” mà nó mang tầm Quốc gia và Quốc tếTừ đó, tạo ra một chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ ổn định, qua đó thu hút thêm về lao động tham gia vào hệ thống, giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động ở địa phương; ước tính thu hút thêm nhiều lao động tại mỗi tác nhân trong chuỗi liên kết. Khi giá trị sản phẩm ổn định và tăng cao sẽ tăng thêm thu nhập cho người lao động so với trước đây. Góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội của địa phương và phát triển kinh tế chung của toàn xã hội.

Thanh Hà


Các tin đã đưa
Kiểm soát, phát hiện và xử lý hàng hóa xuất nhập khẩu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại cửa khẩu  (30-10-2025)
Kinh nghiệm khai thác, phát triển tài sản trí tuệ cho các sản phẩm đặc thù, chủ lực của tỉnh Lâm Đồng  (25-10-2025)
Giải pháp phát triển tài sản trí tuệ các tỉnh vùng Tây Nguyên  (15-10-2025)
Ứng dụng công nghệ trong cuộc chiến chống hàng giả, hàng nhái  (02-10-2025)
Hội Nông dân và các tổ chức tập thể trong xây dựng và bảo vệ thương hiệu nông sản trên thị trường quốc tế  (24-09-2025)
Xác lập mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu sản phẩm được bảo hộ CDĐL  (18-09-2025)
Thúc đẩy hoạt động tạo ra và khai thác Tài sản trí tuệ  (02-09-2025)
CDĐL cà phê Đăk Hà: Vận hành kênh thương mại điện tử cho các cơ sở  (25-08-2025)
Hỗ trợ phát triển thương hiệu và tài sản trí tuệ cho sản phẩm OCOP giai đoạn 2021-2025 và định hướng chiến lược cho giai đoạn  (18-08-2025)
Hành vi người tiêu dùng sản phẩm OCOP, sản phẩm nông nghiệp tại các tỉnhvùng Trung du và miền núi phía Bắc  (12-08-2025)
Các loại tài sản trí tuệ dễ bị vi phạm trong hoạt động KOL  (10-08-2025)
Mô hình sản xuất, quản lý và phát triển sản phẩm được bảo hộ CDĐL theo chuỗi giá trị  (08-08-2025)
CDĐL “Cao Lãnh” nâng cao giá trị, danh tiếng sản phẩm xoài  (01-08-2025)
Nhu cầu bảo hộ quyền SHTT đối với sản phẩm gạo tám Ấp bẹ Xuân Đài của tỉnh Nam Định  (30-10-2024)
Đăng ký bảo hộ và quản lý nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm mắc ca của tỉnh Lai Châu  (28-10-2024)
Nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ  (26-10-2024)
Truyền thông chính sách về sở hữu trí tuệ, bảo hộ chỉ dẫn địa lý và quảng bá hình ảnh địa phương   (24-10-2024)
Xây dựng CDĐL “Bình Tân – Vĩnh Long” cho sản phẩm khoai lang tím  (23-10-2024)
Một số kinh nghiệm phát triển chỉ dẫn địa lí trên thế giới  (22-10-2024)
Sự cần thiết trong việc xây dựng biểu trưng chỉ dẫn địa lý quốc gia  (18-10-2024)