Các hoạt động nghiên cứu khoa học, thực hiện các chương trình, đề án được nhiều Bộ, ngành triển khai tích cực. Thông qua triển khai các nhiệm vụ KH&CN, trong đó tăng cường sử dụng công cụ SHTT nhằm phát triển ngành, lĩnh vực, tạo bước đột phá với những sản phẩm chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đáp ứng kịp thời cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.
Kết quả hoạt động tạo lập, khai thác và phát triển TSTT của các Bộ, ngành
Năm 2024, Bộ Quốc phòng có 186 đơn đăng ký xác lập quyền SHTT (154 đơn trong nước và 32 đơn nước ngoài), 58 văn bằng bảo hộ được cấp (49 trong nước, 09 nước ngoài). Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai một số nhiệm vụ KH&CN có kết quả là đối tượng quyền SHCN, QTG, qua đó tăng cường sử dụng công cụ SHTT nhằm phát triển ngành, tạo bước đột phá với những sản phẩm chất lượng cao phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội (02 phần mềm được cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả; 01 đơn đăng ký giải pháp hữu ích); tích cực nghiên cứu, hợp tác với các tổ chức quốc tế (như Tổ chức Khí tượng thế giới) tìm hiểu, ứng dụng công nghệ mới. Năm 2024, đã hoàn thành việc chuyển giao, tập huấn, hỗ trợ cài đặt và hướng dẫn sử dụng phần mềm (liên quan đến truyền tải, quản lý dữ liệu) cho các Sở Tài nguyên và Môi trường, qua đó phục vụ hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường.
 Bộ GDĐT đã ưu tiên tuyển chọn, phê duyệt các nhiệm vụ KH&CN có kết quả là các đối tượng quyền SHCN như sáng chế, giải pháp hữu ích, thực hiện thưởng cho các tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích trong các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) trực thuộc Bộ GDĐT từ kinh phí KH&CN. Trong năm 2024, các cơ sở GDĐH trực thuộc Bộ GDĐT có 166 đơn đăng ký sáng chế/giải pháp hữu ích được nộp, 36 văn bằng bảo hộ được cấp. Xây dựng và triển khai các đề tài, chương trình KHCN, hỗ trợ các viện nghiên cứu, hợp tác với doanh nghiệp theo hướng tạo ra kết quả nghiên cứu được bảo hộ quyền SHTT cũng luôn được Bộ GDĐT và các cơ sở GDĐH quan tâm. Một số cơ sở GDĐH đã thúc đẩy quan hệ với các doanh nghiệp để phát triển hợp tác, qua đó tìm kiếm cơ hội chuyển giao công nghệ và xúc tiến thương mại hóa TSTT. Tuy nhiên, còn nhiều khó khăn trong định giá sản phẩm SHTT để chuyển giao. Việc thương mại hóa sản phẩm, xây dựng vườn ươm công nghệ cũng có vai trò rất lớn trong phát triển SHTT.
Bộ KH&CN, Bộ Công Thương, Bộ NN&PTNT đã tăng cường phối hợp trong việc thúc đẩy đăng ký bảo hộ quyền SHTT ở nước ngoài thông qua việc ký kết và triển khai Kế hoạch về hỗ trợ bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam ở nước ngoài. Năm 2024, các hoạt động triển khai Kế hoạch tiếp tục được các Bộ tích cực thực hiện như: tổ chức khảo sát về thực trạng và nhu cầu hỗ trợ bảo hộ chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu của doanh nghiệp ra nước ngoài; khảo sát thực tế ở một số nước nhằm tăng cường hợp tác, thúc đẩy bảo hộ nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý của các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam tại các nước này; tổ chức các khoá đào tạo, tập huấn về xây dựng, phát triển và quản trị thương hiệu cho các sản phẩm xuất khẩu tiềm năng;tổ chức truyền thông tại các sự kiện ngoại giao, kinh tế, xúc tiến thương mại ở nước ngoài đối với một số ngành hàng và sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý…
Kết quả hoạt động tạo lập, khai thác và phát triển TSTT tại địa phương
Ở địa phương, các hoạt động hỗ trợ tạo lập và khai thác TSTT tiếp tục được triển khai tích cực tại Bộ phận một cửa của các Sở hoặc qua điện thoại, hộp thư điện tử và nhiều hình thức khác… Các cơ quan thường xuyên hướng dẫn các tổ chức, cá nhân tiến hành thủ tục xác lập và bảo vệ quyền SHTT; tiếp nhận và xử lý các yêu cầu sử dụng địa danh hoặc dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý của đặc sản địa phương để thực hiện thủ tục đăng ký nhãn hiệu; hỗ trợ tổ chức, cá nhân tra cứu, khai thác thông tin về sáng chế, nhãn hiệu phục vụ cho việc bảo hộ, khai thác quyền SHTT; hỗ trợ xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, đặc biệt là cho các sản phẩm chủ lực, đặc sản địa phương… Năm 2024, theo báo cáo đã có 4.239 lượt cá nhân, tổ chức được các Sở KH&CN tư vấn, hướng dẫn về SHCN (xác lập và bảo vệ quyền) trong đó có 3.862 lượt về nhãn hiệu, 236 lượt về kiểu dáng công nghiệp, 109 lượt về sáng chế. Một số địa phương đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong công tác này như Phú Thọ, Ninh Bình, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Gia Lai…
Các hoạt động hỗ trợ, thúc đẩy các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tạo lập và khai thác TSTT cũng được thực hiện thông qua việc lồng ghép với các Chương trình, Đề án, kế hoạch phát triển chung cũng như theo từng ngành lĩnh vực của địa phương như Chương trình phát triển TSTT, Chương trình OCOP, Chương trình/kế hoạch phát triển thương hiệu/nhãn hiệu cho sản phẩm chủ lực/sản phẩm nông nghiệp, Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Đề án phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo... Các hoạt động thúc đẩy sáng tạo của người dân, doanh nghiệp được tổ chức ở nhiều đia phương như các cuộc thi sáng tạo cho thanh thiếu niên, nhà nông, lực lượng vũ trang, hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nhằm hướng tới ươm tạo và phát triển TSTT. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục triển khai Chương trình phát triển TSTT theo nhiệm vụ được phân công tại Quyết định số 2205/QĐ-TTg ngày 24/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Tính đến hết tháng 12/2024, có 348 nhiệm vụ từ Chương trình do các địa phương quản lý, sử dụng nguồn ngân sách địa phương, tập trung vào công tác hỗ trợ nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp, tổ chức tập thể, người dân và hỗ trợ bảo hộ cho các sản phẩm OCOP. Trong khuôn khổ triển khai Chương trình tại các địa phương, đã có 294 khóa đào tạo, tập huấn về SHTT được tổ chức với sự tham gia của hơn 11.000 lượt người. Nội dung đào tạo, tập huấn đa dạng, phong phú. Cũng trong khuôn khổ Chương trình, các địa phương đã tích cực hỗ trợ các tổ chức cá nhân đăng ký xác lập quyền SHCN, theo đó đã có 2.403 đơn đăng ký xác lập quyền SHCN được nộp (94% là đơn nhãn hiệu) và 1.550 văn bằng bảo hộ được cấp (94,5% là giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu). Một số địa phương đạt kết quả tốt trong hoạt động này là Thái Nguyên, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Gia Lai, An Giang, Bến Tre, Đồng Tháp...
Việc hỗ trợ phát triển TSTT cho các sản phẩm chủ lực địa phương đã góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường, dịch chuyển từ mô hình sản xuất đơn lẻ sang sản xuất tập trung, từ sản xuất, phát triển sản phẩm tự do sang sản xuất, kinh doanh sản phẩm bảo hộ quyền SHTT được kiểm soát về nguồn gốc và chất lượng. Việc bảo hộ SHTT cho các sản phẩm đặc thù địa phương còn góp phần gìn giữ các giá trị văn hóa dân tộc, tri thức truyền thống, phát huy và tôn vinh giá trị sản phẩm được sản xuất theo quy trình bản địa.
Thanh Hà
|