Xây dựng bản đồ định vị vùng trồng
Mã số vùng trồng là mã định danh cho một vùng trồng trọt nhằm giúp cơ quan chức năng và người tiêu dùng dễ dàng truy xuất nguồn gốc, xác định quy trình sản xuất của nông sản. Việc mã hóa vùng trồng đặt ra yêu cầu người nông dân cần chuẩn hóa quá trình chăm sóc, quản lý cây trồng, diện tích trồng, đưa ra quy trình chuẩn trong chăm sóc, cảnh báo tình hình dịch bệnh, danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng và ước lượng năng suất… Từ đó, cây trồng cho năng suất cao, chất lượng tốt, đáp ứng được tiêu chuẩn của những thị trường khó tính nhất.
Đến nay, cả nước đã có 8.086 mã số vùng trồng tại 56 tỉnh thành phố và 1.597 mã số cơ sở đóng gói cho các loại quả tươi xuất khẩu sang các thị trường Trung Quốc, Hoa Kỳ, Newzealand, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc…. Tuy nhiên, Việt Nam liên tục nhận được thông báo của nước nhập khẩu liên quan an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật từ các thị trường.
Các thị trường nhập khẩu hiện không cần nơi sản xuất áp dụng VietGAP, GlobalGAP, mà yêu cầu kiểm soát mã số vùng trồng và khi đóng gói xuất khẩu không có tồn dư thuốc BVTV không được phép sử dụng (hoặc vượt quá hạn định). Do vậy, việc sử dụng mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói là rất cần thiết. Theo Cục BVTV, cần tiếp tục hình thành liên kết chuỗi sản phẩm, từ vùng trồng, cơ sở đóng gói, nhà xuất khẩu và cơ quan quản lý nhà nước để ngăn chặn tình trạng sản phẩm trà trộn (từ ngoài vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói đã có mã số) vào chuỗi sản phẩm và kiểm soát khâu xuất khẩu; rà soát lại hiện trạng cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và việc sử dụng mã số tại các địa phương để làm cơ sở đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng các mã số vùng trồng đã cấp. Trong khuôn khổ dự án “Quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý “Cao Lãnh” cho sản phẩm xoài của tỉnh Đồng Tháp gắn với kiểm soát chất lượng, mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu”, hoạt động định vị vùng trồng đã được triển khai, là quá trình trực quan hóa dữ liệu vùng trồng xoài thông qua hệ thống thông tin địa lý GIS. Vùng trồng được xác định và quản lý toàn bộ dữ liệu trên bản đồ. Đơn vị chủ trì thực hiện nhiệm vụ xây dựng bản đồ định vị vùng trồng đối với vùng trồng xoài đã được cấp mã số vùng trồng của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Tân Thuận Đông và Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Tịnh Thới. Mỗi mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói được cấp không phải là không có thời hạn mà theo định kỳ, cơ quan có thẩm quyền sẽ phải tiến hành giám sát để đảm bảo vùng trồng, cơ sở đóng gói đó vẫn đang được quản lý tốt, đáp ứng yêu cầu đặt ra. Trường hợp không đạt yêu cầu theo quy định của nước nhập khẩu, mã số đó sẽ bị thu hồi.
Chuẩn hóa dữ liệu và duy trì hiệu lực mã số vùng trồng dựa trên nền tảng Blockchain
Nền tảng chuỗi khối Blockchain là một cơ sở dữ liệu phân cấp lưu trữ thông tin được liên kết với nhau bằng mã hóa và có khả năng mở rộng theo thời gian. Blockchain có khả năng ghi lại thông tin của sản phẩm từ nguồn gốc xuất xứ đến cửa hàng bán lẻ. Nó cung cấp một cách an toàn và bất biến để lưu trữ dữ liệu được thu thập khi bắt đầu chuỗi cung ứng. Thông tin đó có thể được kiểm tra và xác minh bởi bất kỳ bên nào liên quan đến chuỗi cung ứng của sản phẩm. Thu thập dữ liệu như vậy cho tất cả các sản phẩm có thể rất tốn kém, nhưng nó có thể được thực hiện trên các mẫu. Điều này giúp đảm bảo truy xuất nguồn gốc, tính xác thực và hợp pháp của sản phẩm, bởi không ai có thể thay đổi thông tin về nguồn gốc sản phẩm, và các quy trình sản xuất, phân phối cần thiết, mà không được sự cho phép. Một số chuỗi cung ứng thực phẩm, kim cương và dược phẩm đã áp dụng thành công tính năng này của blockchain để đảm bảo chất lượng và tính xác thực của sản phẩm, cũng như thực hiện thu hồi sản phẩm một cách nhanh chóng hơn. Cơ chế Blockchain khiến việc cập nhật hay xóa giao dịch một cách trái phép trở nên gần như bất khả thi. Dữ liệu gốc đã xác thực có thể được truy cập từ nhiều nguồn trong Blockchain, giúp giảm rủi ro từ một nguồn thông tin duy nhất. Với cơ chế này, các bên đã được ủy quyền cũng có thể truy cập vào dữ liệu thương mại bảo mật theo yêu cầu của quy tắc kinh doanh hay luật pháp trong nước và quốc tế. Các đặc tính chống gian lận cao như vậy sẽ nâng cao niềm tin cho các đối tác trong chuỗi cung ứng và người tiêu dùng cuối cùng.
Đối với vùng trồng xoài, thông tin tra cứu được cập nhật từ khâu bón phân, phun xịt, bao trái đến khi thu hoạch và phân phối. Mỗi thông tin được ghi lại bởi từng đơn vị riêng biệt (nhà vườn, hợp tác xã, nhà phân phối…). Công ty TNHH Phát triển tài sản trí tuệ Việt tiến hành ký kết hợp đồng thiết kế, dựng biển hiệu định vị mã vùng trồng đối với 3 vùng trồng là HTX Dịch vụ nông nghiệp Tân Thuận Đông (thành phố Cao Lãnh), Vùng trồng xoài số 1 khóm Mỹ Phú đất liền (huyện Cao Lãnh) và HTX Dịch vụ nông nghiệp Tịnh Thới (thành phố Cao Lãnh). Biển hiệu được đặt ở vị trí dễ quan sát ở vùng trồng, thông tin thể hiện trên biển là các thông tin chính quy về mã số vùng trồng có khả năng công bố.
Biên tập Sổ tay hướng dẫn
Sổ tay hướng dẫn quy trình kỹ thuật sản xuất sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý với mục đích cung cấp hướng dẫn chi tiết cho việc thực hiện sản xuất sản phẩm xoài mang chỉ dẫn địa lý “Cao Lãnh”. Sổ tay hướng tới đối tượng chính là các nhà sản xuất trực tiếp, cán bộ kỹ thuật tại các vùng trồng thuộc phạm vi bảo hộ. Sổ tay được thiết kế 20 trang, bao gồm toàn bộ quá trình chăm sóc và thu hoạch: Chọn đất và thiết kế vườn; đất trồng và kỹ thuật lên liếp; mật độ; khoảng cách; tiêu chuẩn cây giống; thu hoạch và bảo quản, quy trình chăm sóc.
Trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hiện nay, quy trình kỹ thuật sản xuất sản phẩm xoài được thực hiện tương đối đồng nhất, được hướng dẫn và kiểm soát bởi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, cùng các phòng Kinh tế/Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện/thành phố và các Trung tâm dịch vụ nông nghiệp các huyện/thành phố, công chức phụ trách nông nghiệp các xã/phường/thị trấn.
Công Thường
|